CLB Doanh nghiệp Hà Nam tỉnh Đồng Nai
GDP tăng 9,01% trong 9 tháng đầu năm 2026, tiến gần mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, bước tiến tiếp theo không chỉ cần thêm vốn mà còn đòi hỏi kích hoạt đồng thời tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu và nâng cao năng suất.
Tăng trưởng hai con số thường được hình dung qua những đại dự án, dòng vốn đầu tư hàng trăm tỷ USD hay những kỷ lục xuất khẩu mới. Nhưng phía sau con số GDP là những hoạt động gần gũi với đời sống kinh tế: người dân mua sắm, doanh nghiệp đầu tư, Nhà nước chi tiêu và hàng hóa Việt Nam được đưa ra thị trường thế giới.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 9,01%; riêng quý III tăng 9,95%. Tuy nhiên, các cấu phần của tổng cầu đang vận động với tốc độ khác nhau. Tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51%, tích lũy tài sản tăng 17,88%, trong khi xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%. Như vậy, đầu tư và xuất khẩu đang tạo lực kéo mạnh hơn tiêu dùng. Khi Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, câu hỏi không chỉ là cần thêm bao nhiêu vốn, tiêu dùng hay xuất khẩu, mà còn là nền kinh tế có thể tạo thêm bao nhiêu giá trị từ lượng vốn và lao động hiện có.

Theo phương pháp chi tiêu, GDP được cấu thành từ tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu Chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (X-M). Tăng trưởng có thể được thúc đẩy khi hộ gia đình chi tiêu nhiều hơn, doanh nghiệp mở rộng đầu tư, Nhà nước nâng cao hiệu quả chi tiêu và xuất khẩu tạo thêm giá trị cho nền kinh tế. Cách tiếp cận này giúp lý giải vì sao GDP có thể tăng nhanh ngay cả khi sức mua chưa chuyển động cùng tốc độ. Một tuyến cao tốc được xây dựng, nhà máy mới đi vào hoạt động hay doanh nghiệp mua sắm máy móc đều góp phần làm tăng đầu tư. Sản lượng hàng điện tử xuất khẩu tăng cũng tạo thêm GDP, trong khi lợi ích đối với thu nhập hộ gia đình có thể cần thời gian để thể hiện thông qua việc làm và tiền lương.
Trong 9 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt khoảng 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%. Tuy nhiên, tác động của đầu tư không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn mà còn nằm ở năng lực sản xuất, số việc làm, thu nhập và cơ hội mà mỗi dự án tạo ra cho doanh nghiệp trong nước. Theo tính toán của TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, để GDP tăng 9-10% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030, đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 36-39% GDP. Nhu cầu vốn bình quân vào khoảng 260-300 tỷ USD mỗi năm, tổng nhu cầu của cả giai đoạn tương đương khoảng 1.467 tỷ USD.

Quy mô này cho thấy tăng trưởng cao đòi hỏi nguồn lực rất lớn. Tuy nhiên, huy động được vốn mới chỉ giải quyết một phần bài toán. Vấn đề tiếp theo là mỗi đồng vốn có thể tạo ra bao nhiêu GDP. TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần nâng cao hiệu quả đầu tư, đưa hệ số ICOR xuống khoảng 4-4,5, thay cho mức trên 6 hiện nay. Có thể hiểu đơn giản, ICOR phản ánh lượng vốn cần thiết để tạo thêm một đơn vị sản lượng; hệ số càng cao, nền kinh tế càng phải bỏ ra nhiều vốn để đạt cùng mức tăng trưởng. Vì vậy, cải thiện hiệu quả sử dụng vốn có thể giúp giảm áp lực phải liên tục mở rộng tín dụng, đầu tư công hoặc huy động thêm nguồn lực để duy trì tốc độ tăng trưởng cao.
Nhìn từ phía cung, tăng trưởng được hình thành từ ba nguồn lực chính: vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Nếu vốn tiếp tục tăng mạnh trong khi lao động và năng suất cải thiện chậm, nền kinh tế vẫn có thể tăng trưởng cao trong một giai đoạn, nhưng sẽ cần ngày càng nhiều vốn để duy trì tốc độ đó. TS. Cấn Văn Lực dẫn kinh nghiệm từ các nền kinh tế tăng trưởng cao, trong đó vốn thường đóng góp khoảng 40-50%, lao động 6-10% và TFP khoảng 35-50%. Với Việt Nam trong nhiệm kỳ vừa qua, theo tính toán ông nêu, vốn đóng góp khoảng 50%, lao động 6-8% và TFP khoảng 42-44%.
Từ thực tế này, một trong những yêu cầu của giai đoạn tiếp theo là nâng tỷ trọng đóng góp của TFP lên trên 50%. Đây là phần tăng trưởng đến từ việc ứng dụng công nghệ tốt hơn, nâng cao kỹ năng lao động, cải thiện quản trị và hoàn thiện thể chế. Khi năng suất tăng, cùng một lượng vốn và lao động có thể tạo ra nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng chỉ ra dư địa cải thiện năng suất của Việt Nam. Theo đánh giá của tổ chức này, tăng trưởng mạnh trong nhiều thập kỷ qua dựa đáng kể vào tích lũy vốn. Trong giai đoạn 2010-2022, vốn đóng góp khoảng 62% tăng trưởng sản lượng. Năng suất đã cải thiện nhưng vẫn còn dư địa lớn, trong khi nâng cao năng suất được xem là yếu tố quan trọng để Việt Nam tiến tới nhóm thu nhập cao. Yêu cầu này càng cấp thiết khi lợi thế dân số dần thu hẹp. Tăng trưởng trong tương lai khó có thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc bổ sung lao động hoặc mở rộng vốn với tốc độ rất cao. Một nhà máy ứng dụng công nghệ tốt hơn, đội ngũ lao động có kỹ năng cao hơn hay doanh nghiệp quản trị hiệu quả hơn đều có thể tạo thêm GDP mà không cần tăng tương ứng các đầu vào.
Nâng cao năng suất không có nghĩa có thể xem nhẹ những động lực tăng trưởng truyền thống. Trong công thức GDP, tiêu dùng vẫn là cấu phần quan trọng, tạo thị trường đầu ra cho doanh nghiệp. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 17,88% của tích lũy tài sản. Khoảng cách này cho thấy vẫn còn dư địa củng cố sức cầu trong nước.
Sức cầu bền vững phụ thuộc nhiều vào thu nhập thực tế, việc làm và niềm tin của hộ gia đình. Theo lý thuyết thu nhập thường xuyên của nhà kinh tế Milton Friedman, người dân có xu hướng quyết định chi tiêu dựa trên mức thu nhập mà họ kỳ vọng duy trì trong dài hạn. Khi việc làm ổn định, thu nhập thực cải thiện và áp lực chi phí giảm, thành quả tăng trưởng có điều kiện quay trở lại nền kinh tế thông qua tiêu dùng.
Ở góc độ dài hạn, Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho rằng để đạt mức thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần duy trì tăng trưởng bình quân khoảng 6% mỗi năm trong hai thập kỷ tới. Điều này phụ thuộc đáng kể vào việc nâng cao năng suất, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đối với xuất khẩu, vấn đề không chỉ nằm ở việc gia tăng kim ngạch mà còn ở phần giá trị được giữ lại trong nước. OECD từng chỉ ra khu vực FDI chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2023, trong khi giá trị gia tăng nước ngoài chiếm khoảng 48% tổng giá trị xuất khẩu năm 2020. Điều cần cải thiện là mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng, qua đó gia tăng giá trị mà doanh nghiệp, người lao động và nhà cung ứng trong nước nhận được.
Bên cạnh các động lực truyền thống, dư địa tăng trưởng còn đến từ cải cách thể chế, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, liên kết vùng, chuyển đổi xanh và xử lý các dự án tồn đọng. Theo tính toán được TS. Cấn Văn Lực công bố, nhóm động lực mới này có khả năng đóng góp thêm khoảng 2,8-3,7 điểm phần trăm GDP mỗi năm nếu được khai thác hiệu quả. Trong đó, khoa học công nghệ và chuyển đổi số có thể đóng góp thêm khoảng 0,8-1,2 điểm phần trăm; thúc đẩy các đầu tàu và liên kết vùng khoảng 0,5-0,8 điểm; cải cách thể chế khoảng 0,3-0,7 điểm; xử lý dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực khoảng 0,3-0,7 điểm. Đây là những dư địa cần được chuyển hóa thành kết quả thực tế thông qua các chính sách phù hợp, tiến độ triển khai cụ thể và sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp.
Nhìn từ các cấu phần GDP, mục tiêu tăng trưởng hai con số là bài toán vừa về quy mô nguồn lực, vừa về hiệu quả sử dụng nguồn lực. Việt Nam cần đủ vốn để mở rộng năng lực sản xuất, sức cầu đủ mạnh để tạo thị trường và xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng. Tuy nhiên, yếu tố quyết định tính bền vững nằm ở khả năng nâng cao năng suất và gia tăng giá trị nội địa.
Khi mỗi đồng vốn tạo ra nhiều giá trị hơn, doanh nghiệp có thêm cơ hội nâng sức cạnh tranh, người lao động được hưởng lợi từ việc làm và thu nhập tốt hơn, còn nền kinh tế giảm dần sự phụ thuộc vào việc liên tục gia tăng đầu vào. Đây cũng là nền tảng để mục tiêu tăng trưởng cao gắn với chất lượng và khả năng phát triển bền vững trong dài hạn.
Nguyễn Trúc